SALArt 30 được thiết kế như một nghiên cứu dọc, thăm dò, 1 nhóm và không có đối chứng. Đề cương dự kiến tuyển 20–30 người trưởng thành; mỗi người sử dụng 3 bữa SALArt/tuần trong 4 tuần, hoàn thành bảng hỏi nền tối đa 10 mục và 3 mục tự báo cáo sau mỗi bữa. Mục tiêu chính là đánh giá tính khả thi của quy trình thu thập dữ liệu, không phải kiểm định hiệu quả y khoa.
Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
Mục tiêu chính là xác định liệu quy trình gồm 3 mục phản hồi sau mỗi bữa có đủ dễ thực hiện và tạo được chuỗi dữ liệu dùng được trong 4 tuần hay không. Phân tích thăm dò xem xét mức nhất quán giữa đánh giá sau bữa, ý định chọn lại và thuộc tính món trong cùng 1 người.
Thiết kế và mẫu nghiên cứu
Thiết kế dọc, thăm dò, 1 nhóm, không có đối chứng. Đề cương dự kiến tuyển 20–30 người trưởng thành theo mẫu thuận tiện trong nhóm khách hàng tình nguyện. Mỗi người sử dụng 3 bữa SALArt/tuần trong 4 tuần. Cỡ mẫu phục vụ đánh giá quy trình, không được tính để kiểm định hiệu quả.
Biến số và kế hoạch phân tích
Chỉ số khả thi gồm tỷ lệ hoàn thành theo bữa, tỷ lệ dữ liệu thiếu và tỷ lệ duy trì đến tuần 4. Phân tích thăm dò mô tả sự thay đổi nội cá nhân của mức phù hợp, cảm nhận sau bữa và ý định chọn lại. Đề cương không đặt mục tiêu suy luận quan hệ nhân quả.
Quản trị dữ liệu
Người tham gia được gán mã nghiên cứu; dữ liệu định danh được tách khỏi dữ liệu phân tích. Bộ dữ liệu chỉ giữ các trường cần cho câu hỏi nghiên cứu. Trước khi tuyển mẫu, quy trình phải nêu rõ thông tin đồng thuận, quyền dừng tham gia và thời hạn lưu trữ dữ liệu.
Giới hạn dự kiến
Mẫu nhỏ, tuyển không ngẫu nhiên, không có nhóm đối chứng và sử dụng dữ liệu tự báo cáo. Nghiên cứu diễn ra trong bối cảnh của 1 thương hiệu nên không đại diện cho dân số chung. Kết quả, nếu có, chỉ dùng để đánh giá tính khả thi và xây dựng giả thuyết cho nghiên cứu tiếp theo.
Đây là đề cương trước triển khai, chưa được phản biện độc lập. Trang chưa chứa dữ liệu hoặc kết quả nghiên cứu.
